Cơn bão khủng khoảng tài chính thế giới đang đẩy nền kinh tế Việt Nam tới nhiều thách thức khó lường. Tuy nhiên trong khó khăn, kinh tế Việt Nam vẫn có nhiều lợi thế để vượt qua bão tố và tiến về phía trước...
Dự báo tình hình kinh tế Việt Nam năm 2009, các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước vẫn đang còn nhiều ý kiến khác nhau, mặc dầu vậy họ vẫn thống nhất nhận định rằng, năm 2009 kinh tế Việt Nam vẫn có cơ hội vượt qua thách thức...
I.Những thách thức đang đến với kinh tế Việt Nam năm 2009:
1. Thách thức lớn nhất với kinh tế Việt Nam năm 2009 là đối mặt với những tình huống tiềm ẩn khó lường của cơn bão khủng khoảng tài chính thế giới, các dư chấn của nó tiếp tục gây ra các tác động xấu đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam : Thương mại, tài chính ngân hàng, đầu tư nước ngoài...
Về thương mại, thị trường xuất khẩu sẽ bị thu hẹp, các thị trường quan trọng như Mỹ, Nhật bản, Châu Âu sức mua không còn như những năm trước. Hàng hoá Việt Nam phải cạnh tranh khốc liệt hơn với hàng hoá cùng loại của các nước châu á. Thuận lợi về giá sẽ không còn, khả năng thanh toán của các đối tác cũng không thuận lợi như những năm trước... Nhiều mặt hàng xuất khẩu truyền thống, có thế mạnh của ta như: may mặc, giày da, cao su, gạo, cà phê, cá, tôm, hàng thủ công mỹ nghệ... chắc chắn sẽ giảm lượng xuất khẩu.
Thị trường tài chính, ngân hàng sẽ có nhiều biến động khó lường về tỷ giá và lãi suất ngoại tệ trong đó đáng lưu ý là tỷ giá và lãi suất USD. Thị trường chứng khoán sẽ còn gặp khó khăn, luồng tiền đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán có khả năng suy giảm...
Việc huy động các nguồn vốn cho nền kinh tế không còn thuận lợi như trước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) và viện trợ phát triển chính thức(ODA) sẽ chững lại, dòng kiều hối sẽ không dồi dào như những năm trước...
2. Sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế còn nhiều bất trắc.
Do những tác động trực tiếp và gián tiếp nêu trên, khủng khoảng kinh tế thế giới đã, đang và sẽ ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta, trừ ngành thông tin liên lạc có thể trụ vững còn hầu hết các ngành kinh tế khác ít có khả năng phát triển, tăng trưởng cao hơn các năm trước. Nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại và cả khu vực nông thôn sẽ thu hẹp sản xuất và kinh doanh, thậm chí phá sản, khiến cho người lao động mất việc làm, đời sống khó khăn. Do các nước gặp khó khăn về kinh tế nên khả năng tiếp thu lao động xuất khẩu của ta cũng sẽ giảm...Do thiếu vốn các công trình trọng điểm, đặc biệt là các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ các nhu cầu phát triển trước mắt và lâu dài rất dễ lâm vào tình trạng thi công dang dở, chậm đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả. Mới bước vào năm 2009 có một tuần mà thiên tai đã khó lường, mưa lớn ở miền Trung và rét đậm rét hại ở miền Bắc đã gây tổn thất lớn cho nông nghiệp. Điều này cho thấy nông nghiệp năm nay sẽ còn điêu đứng. Thị trường hàng hoá nội địa sẽ xuất hiện nhiều yếu tố bất lợi khi hàng hoá nước ngoài tiếp tục tràn vào nước ta ...
3. Việc huy động các tiềm năng vào phát triển kinh tế những năm qua, không có một chiến lược ổn định và thống nhất, mặt khác lại thiếu sự lựa chọn sáng suốt trong khai thác và quản lý, đến nay khi nền kinh tế gặp khó khăn, nó đã bộc lộ những khiếm khuyết, bất lợi cho nền kinh tế. Đó là việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, xây sân gôn, làm đường sá khiến diện tích đất nông nghiệp, trong đó đáng chú ý là diện tích đất trồng lúa màu mỡ ngày càng bị thu hẹp. Đến tháng 4-2008, theo quyết định rà soát và kiểm tra của Thủ tướng Chính phủ thì diện tích trồng lúa đã giảm 34.330 ha, trong đó tập trung ở ĐBSCL là 15.00 ha, đồng bằng sông Hồng là 8.000 ha, Đông Nam Bộ 6.600ha, Bắc Trung Bộ 2.340ha...Việc khai thác nước ngầm và nước bề mặt phục vụ cho sản xuất và đời sống không chặt chẽ, không kết hợp với nhiệm vụ bảo vệ môi trường khiến cho nhiều dòng sông, nhiều khu vực dân cư bị ô nhiễm dẫn đến khả năng chúng ta không còn là nơi có nguồn nước sạch phong phú, vô tận. Rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng và nhiều loại gỗ quý hiếm chưa được bảo vệ tốt, trái lại còn bị khai thác không thương tiếc. Trong khi đó việc trồng rừng mới lại triển khai chậm chạp. Các nguồn lợi khoáng sản khai thác không theo một chiến lược dài hạn, nhiều khoáng sản ở nhiều địa phương như sắt, thiếc, vàng, ti tan, than đá, đá trắng, cát ... đã bị khai thác không hiệu quả, thậm chí còn bị khai thác trộm, gây thất thoát lớn cho ngân sách quốc gia . Nguồn lợi hải sản trên biển cũng đang có nguy cơ cạn kiệt ...Đặc biệt việc khai thác tiềm năng con người, tiềm năng lao động nhìn chung vẫn chưa hiệu quả. Việc sử dụng lao động vẫn còn nhiều bất cập. Lao động trẻ là thế mạnh của nước ta, nhưng rất tiếc phần đông trong số đó lại không được đào tạo, không có trình độ tay nghề khiến cho họ không tìm được việc làm, tình trạng này càng nặng nề thêm khi nền kinh tế suy giảm việc làm trong xã hội đang ít đi. Thách thức này không chỉ là thách thức của nền kinh tế nói riêng mà còn là thách thức chung của toàn xã hội, không chỉ là thách thức của năm 2009 mà còn là thách thức lâu dài. Bài học rút ra ở đây là, Chúng ta có nhiều tiềm năng phục vụ cho phát triển, nhưng nếu chúng ta không biết giữ gìn, bảo vệ , bồi dưỡng, để giành, sử dụng đúng, sử dụng có hiệu quả tiềm năng thì cho dù có tiềm năng đến bao nhiêu chăng nữa, trước sau tiềm năng đó sẽ mai một và héo tàn...
4. Kinh tế phát triển chậm, tăng trưởng thiếu bền vững, các nguồn lực lại chưa được chú ý trong sử dụng khai thác, dẫn đến nhiều vấn đề xã hội càng khó khăn thêm. Sản xuất đình trệ, người lao động ở các khu vực nông thôn và thành thị, công nghiệp, dịch vụ thương maị, du lịch và nông nghiệp đều không đủ việc làm khiến cho họ không có thu nhập, đời sống hàng ngày đã khó khăn càng khó khăn thêm. Công cuộc xoá đói giảm nghèo càng trở nên cấp bách. Khả năng ứng phó với các tình huống do thiên tai của người dân càng khó khăn hơn...Tất cả những khó khăn trong đời sống xã hội đó sẽ gây sức ép với nền kinh tế, đổ dồn gánh nặng lên ngân sách quốc gia...
II. Nhìn rõ những thách thức trên, chúng ta cũng nhìn rõ những cơ hội để vượt qua và vững bước tiến lên.
Theo phân tích của nhiều chuyên gia kinh tế trong nước và quốc tế, năm 2009 và những năm tiếp theo, Việt Nam có nhiều cơ hội để nhanh chóng vượt qua bão tố khủng khoảng kinh tế thế giới. Đó là Việt Nam có môi trường chính trị và kinh tế khá ổn định, trong khi đó các nhà đầu tư lớn Châu Âu và Nhật Bản...đang chuyển hướng chiến lược đầu tư sang Đông Nam A trong đó rất chú ý đến Việt Nam. Mặt khác chúng ta đã có ít nhiều kinh nghiệm trong khôi phục kinh tế trong khủng khoảng những năm 1997,1998,1999. Năm 2008 dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ ta đã kịp thời đưa ra 8 giải pháp trọn gói kiềm chế lạm phát có hiệu quả và bước đầu đã làm chủ được tình hình. Trước diễn biến mới của nền kinh tế, ngay đàu năm 2009. Chính phủ đã nhanh chóng điều chỉnh nhiệm vụ với 6 nhóm giải pháp hết sức nhạy bén và linh hoạt...Và điều quan trọng hơn hết là nhân dân ta có truyền thống đoàn kết, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo và điều hành của Chính phủ, thống nhất hành động vượt qua khó khăn ...Phát huy những lợi thế đó, với niềm tin và quyết tâm hành động, trước mắt chúng ta cần làm tốt những việc hệ trọng sau đây:
Một là: Các bộ, ngành, các cơ quan, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội từ Trung ương đến địa phương cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát và 6 nhóm chống suy giảm kinh tế, quyết tâm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững.
Hai là: Tập trung tháo gỡ khó khăn cho các cơ sở, tạo điều kiện đẩy mạnh các hoạt động sản xuất và kinh doanh. Các bộ, ngành, các cơ quan của Chính phủ khẩn trương tham mưu để Chính phủ kịp thời điều chỉnh ban hành các chính sách, các hướng dẫn sát hợp với sự biến động của sản xuất và kinh doanh ví dụ như: các chính sách miễn giảm thuế, các chính sách hướng dẫn tìm thêm thị trường tiêu thụ sản phẩm, chính sách hỗ trợ người lao động khi mất việc, đặc biệt là chính sách hỗ trợ vốn, trong đó chú trọng hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ vốn cho các dự án có hiệu quả, tạo ra nhiều việc làm. Các cơ sở sản xuất kinh doanh, không nên trông chờ, ỷ lại, cần nêu cao tinh thần chủ động sáng tạo, linh hoạt để duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần tích cực nhất vào ổn định và phát triển kinh tế. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư để giữ chân và thu hút thêm các nhà đầu tư nước ngoài mới một cách lựa chọn, có hiệu quả.
Ba là: Nhanh chóng điều chỉnh định hướng xuất khẩu theo hướng: đa dạng hoá hàng hoá xuất khẩu, đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, mở rộng thêm các thị trường mới, giảm xuất khẩu vào các thị trường chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng khoảng, có thêm các chính sách kích thích xuất khẩu, đặc biệt là chính sách tỷ giá linh hoạt, chính sách ưu đãi tín dụng trong xuất khẩu. Phát triển mạnh mẽ thị trường nội địa, mở cuộc vận động Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam...
Bốn là: Tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt chi tiêu công, đầu tư công. Khắc phục ngay tình trạng ứ đọng vốn của các dự án công, đẩy mạnh giải ngân vốn cho đầu tư phát triển...Tất cả là nhằm thoát khỏi tình trạng thâm hụt ngân sách và nâng cao hiệu quả đầu tư vốn của Nhà nước. Quản lý tốt các hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, các công ty có vốn Nhà nước. Tiếp tục thực hiện tốt việc chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong các hoạt động kinh tế và xã hội...
Năm là: Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, giảm bớt các thủ tục rườm rà, cản trở sản xuất kinh doanh. Công chức từ cơ sở đến trung ương cần nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển sản xuất...
Sáu là: Tăng cường công tác thông tin, theo sát nhịp thở kinh tế quốc tế và trong nước, dự báo, đánh giá đúng sự phát triển của tình hình, làm chủ thông tin kinh tế trong xã hội, phát hiện nhanh các thông tin sai sự thật, trừng trị thích đáng những người phao tin đồn nhảm gây hoang mang trong xã hội...